1. Đền Hồng Sơn
Đền tọa lạc trên một khu đất cao ráo ngoảnh mặt ra sông cửa Tiền, cạnh ngõ phía Tây của ngôi chợ tỉnh. Vì có khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng, trồng nhiều loại hoa tươi cây cảnh, có sân cỏ và hồ bán nguyệt nên tuy ở sát đường, gần chợ mà đền vẫn giữ được vẻ tĩnh mịch với bầu không khí trong lành.
Có nhiều ý kiến về sự lập đền. Có tài liệu cho là đền được lập từ hồi Minh Mệnh thứ 18, là năm Kỷ Hợi (1839) nhưng theo ký ức của dân gian thì nó ra đời khi đô thị Vinh mới được nhóm lên, tức thời vua Quang Trung (1788- 1792). Điều đó chứng tỏ đền Hồng Sơn có một lịch sử khá lâu đời.
Đền Hồng Sơn có nét kiến trúc cổ kính nhưng không kém phần tráng lệ. Tam quan, tạc môn, tháp, gác trống, gác chiêng và các tòa trung điện, thượng điện có từ thời Nguyễn. Sau này có xây thêm hạ điện, các lối hữu vu, tả vu, tả hiền, hữu hiền, sân giữa, bờ tường bao quanh. Cách bố trí các công trình kiến trúc ở đây tuân thủ theo sự đăng đối từng cặp một và được nâng dần lên từ ngoài vào trong. Tòa nhà cao nhất là thượng điện, tạo cho đền một quần thể kiến trúc vững chãi, tâm nghiêm.
Hạ điện rộng 274m2. Tuy mới được trùng tu năm 1998 nhưng nó đã lấy lại được phong cách kiến trúc của thời xưa. Trong đó, đặt các hương án bày khám thờ sơn son thiếp vàng, đính các câu đối, các bức đại tự cùng trống, chiêng, gươm, giáo bằng gỗ, là nơi thờ Thánh Mẫu, Tứ Phủ Diệu Linh cùng Quan Hoàng Mười. Sân trước Hạ điện cũng dành khoảng không gian cho việc hành lễ, tế lễ trong những ngày lễ trọng.
Trung điện rộng 65m2, là nơi tập trung những đặc sắc nghệ thuật về kiến trúc, các rường bẫy uốn cong có xoi lồng những búp sen cùng chim, cá sống động. Các giao điểm giữa cột và xà bẫy có chạm trổ tứ linh xen với các cành lá, hoa trái trông khá hài hòa. Đồ thờ và các bức câu đối đại tự cũng được chọn lọc, trần thiết trựng bày kỹ lưỡng hơn. Trung điện là nơi thờ tự Đức Tháng Trần, cùng gia quyến và Tướng lĩnh như: Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Thị Dung, Đệ nhị Vương Cô( con gái Đức thánh Trần)....
Thượng điện rộng102m2, mái cao xếp 4 tầng, các góc đều uốn cong và đắp những rồng, phượng. ở đây, trên cao đặt tượng Ngọc hoàng Thượng Đế, Nam Tào Bắc đẩu. Vị trí thờ tự chính ở đây là Quan Thánh Đế Quân - vị thần chủ của Đền.
Hiện nay tại đền Hồng Sơn, bên trong các miếu điện là công trình kiến trúc cổ kính, mỹ lệ, còn lưu giữ được 383 hiện vật với chất liệu quý gồm nhiều loại hình phong phú, có giá trị nghệ thuật cao, là nơi hội tụ những văn hóa tế khí hiếm có ở tỉnh Nghệ An.
Nếu có dịp ghé qua Nghệ An, hãy một lần đến đền Hồng Sơn chiêm ngưỡng vẻ đẹp kiến trúc cũng như tận hưởng một không khí trong lành của đền mang lại.
2. Cổng Thành Vinh
Năm 1803, Gia Long ra Bắc, chọn làng Vĩnh Yên nằm phía Tây Bắc Dũng Quyết (khu vực thành cổ bây giờ) xây trấn sở. Năm 1804 chính thức dời trấn từ Dũng Quyết về Vĩnh Yên, cho xây thành Nghệ An bằng đất. Mãi đến năm 1931 vua Minh Mạng mới cho xây lại thành bằng đá ong theo kiểu Vauban (Vauban là tên một tướng Pháp có sáng kiến thiết kế kiểu thành này).
Năm 1803, Gia Long ra Bắc, chọn làng Vĩnh Yên nằm phía Tây Bắc Dũng Quyết (khu vực thành cổ bây giờ) xây trấn sở. Năm 1804 chính thức dời trấn từ Dũng Quyết về Vĩnh Yên, cho xây thành Nghệ An bằng đất. Mãi đến năm 1931 vua Minh Mạng mới cho xây lại thành bằng đá ong theo kiểu Vauban (Vauban là tên một tướng Pháp có sáng kiến thiết kế kiểu thành này).
Thành có 6 cạnh, chu vi dài 2.412m, cao 4,42m, diện tích 420.000m⊃2;, bao xung quanh có hào rộng 28m, sâu 3,20m. Lúc khởi công, Triều đình nhà Nguyễn đã huy động 1000 lính Thanh Hoá, 4000 lính Nghệ An. Đến thời Tự Đức, khi nâng cấp phải lấy 8.599 phiến đá sò từ Diễn Châu và đá ong từ Nam Đàn, 4.848 cân vôi, 155 cân mật mía, với tổng kinh phí là 3.688 quan tiền. Toà thành là chứng tích của nhiều sự kiện lịch sử thời nhà Nguyễn và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.
Thành cổ có 3 cửa ra vào, cửa tiền là cửa chính hướng về phía Nam, cửa để Vua ngự giá, các quan trong lục bộ triều đình và Tổng đốc ra vào. Cửa Tả hướng về phía Đông, cửa hữu hướng về phía Tây, muốn đi qua các cửa đều phải qua một cái cầu. Bên trong, công trình lớn nhất là hành cung, phía Đông Hành cung có dinh Thống Đốc, phía Nam có dinh Bố Chánh và án Sát, dinh lãnh binh, dinh đốc học, phía Bắc có trại lính và nhà ngục. Sau này phía Tây có nhà giám binh người Pháp. Toàn bộ được trang bị 65 khẩu thần công, 47 khẩu đặt ở các vọng gác, số còn lại tập trung ở hành cung và dinh thống đốc.
Trải qua nhiều biến cố của lịch sử và sự phá hoại của chiến tranh, di tích Thành cổ hầu như không còn lại gì, chỉ còn lại 3 cổng thành và khu hồ bao quanh, trùng tu lại được 2/3 cổng thành đồng thời quy hoạch khôi phục lại di tích và cải tạo thành một công viên văn hoá lớn của Thành phố gọi tên là Công viên Thành cổ Vinh với quần thể các loại hình dịch vụ, vui chơi giải trí, du lịch văn hoá đa dạng, phong phú.
3. Chùa Diệc (Diệc Cổ Tùng Lâm)
Hai tiếng "Chùa Diệc" trở thành niềm yêu mến của người dân thành phố Vinh từ lâu rồi - ngôi chùa lớn nhất ở Vinh và là một trong những ngôi chùa lớn nhất ở Nghệ Tĩnh. Người sáng lập ra ngôi chùa mượn ý trong kinh Phật để đặt tên: diệc bộ diệc xu có nghĩa là cùng bước theo cùng chạy theo (các bậc tu hành đắc đạo để lên cõi Niết Bàn).
Có phải như vậy chăng? Dân gian quanh vùng lại giải thích một cách khác đầy mầu sắc huyền bí và tôn nghiêm.
Hình ảnh chùa Diệc xưa
Thuở ấy, có cánh đồng màu có nhiều ao chuôm do bà con nông dân đào để lấy nước tưới đất canh tác. Bỗng một năm, hạn hán lớn, ao chuôm khô sạch nước. Cá tôm phơi xác. Chim chóc trốn biệt đi nơi khác. Đồng điền quạnh vắng, chỉ có gió nam thổi mù mịt đất cát. Nhưng rất lạ, sau một đêm ngủ dậy, người ta thấy diệc bay về rất nhiều. Diệc chen chúc nhau ở các lòng ao lòng chuôm khô nẻ đất. Trời đang nắng chang chang bỗng tối sầm vần vũ mây đen, và giông tố nổi lên. Mưa! Mưa! Mưa xối xả. Đồng ruộng được tưới mát. Ao chuôm đầy ắp nước. Bà con nông dân sung sướng kéo nhau ra đồng, ngạc nhiên thấy cảnh tượng đau lòng: hàng trăm con diệc nằm chết la liệt. Ai cũng bảo những con diệc này do Nhà trời phái xuống để làm mưa. Họ nhặt xác diệc lại một nơi và đắp thành một cái gò nhỏ. Từ hôm ấy, đêm nào người ta cũng thấy từ gò đất đàn diệc bay lên trời... Các cụ già nảy ra ý định xây trên gò đất một ngôi chùa, và dân trong vùng quen gọi là Chùa Diệc.
Đời vua Thành Thái (1873), đất Vinh mới được nhà vua ký đạo dụ thành lập thị xã. Trước đó rất lâu, năm 1742, chùa Diệc đã được dựng lên. Thuở ban sơ, chỉ là một ngôi nhà gianh nho nhỏ, tường vách sơ sài, bao quanh bởi khu vườn rậm rạp. Năm này qua năm khác, chim muông kéo nhau về rất đông và khách thập phương về lễ bái tấp nập.
Ngày rằm tháng bảy năm ấy, vị sư trụ trì tại chùa nằm mơ thấy chim diệc bay về kín vườn, rồi lại rủ nhau bay về trời. Bà con dân làng bàn nhau góp công đức, xây dựng chùa khang trang. Những năm tiếp theo, chùa được tu bổ dần và trở thành một trong những địa chỉ văn hóa có giá trị lớn về kiến trúc và lịch sử.
Chùa tọa trên một khu đất rộng chừng ba ha. Tuy ở cạnh đường thiên lý, nhưng bước vào chùa, du khách bỗng có cảm giác êm ả, thanh tịnh. Lũy cây bao bọc. Vườn tược sầm uất, thơm hương hoa trái và ríu rít chim muông. Hồ sen thanh khiết. Tháp nhỏ trầm tư, lãng đãng linh hồn các phật tử quá cố, sinh thời đã góp nhiều công sức xây dựng chùa.
Lẫn vào bóng cây bóng tháp, lẫn vào trong tiếng chim và hương hoa là những đường nét dựng xây cổ kính. Thượng điện dài 13,60 m rộng 8,61 m. Hạ điện dài 10,6 m rộng 8 m. Tam quan với lầu gác chuông đường bệ. Trước tam quan là một cái hồ rộng càng tăng thêm vẻ trang nghiêm và u tịch của nhà Phật. Trong chùa có mười bảy pho tượng mà gương mặt dồn lên nỗi suy tư nhân thế. Phía trong uy nghi và trầm mặc những bức đại tự lưỡng long triều nguyệt, câu đối sơn son thiếp vàng, tòa sen và hương án lung linh ánh nến. Đặc biệt có hai bia đá lớn, cao 2 m rộng 1 m với những hình chạm khắc tinh vi... Cửa Thiền rạng sáng sự tế độ và dòng nước sông Vĩnh đón nguồn từ xa chảy về vĩnh viễn chiếu vào đôi câu đối: Thiền môn quang phổ độ - Vĩnh thủy viễn trường lưu. Lòng người cầu mong sự hòa mục và phép Phật ưa chuộng điều tín điều trung chiếu vào đôi câu đối: Nhân tâm cầu hòa lạc - Phật pháp thượng tín trung.
***
Ngôi chùa hầu như gắn liền với bao biến thiên lịch sử, với bao nhiêu sự kiện trọng đại của thành phố. Nơi đây đã in dấu chân của nhiều tao nhân mặc khách, của nhiều nhà chí sĩ yêu nước và nhiều chiến sĩ cộng sản.
Thời kỳ Cần Vương, vườn cây sầm uất sau chùa là điểm hẹn gặp gỡ của một số nhà Văn thân bàn tính lập mưu đánh Pháp. Quán lau ở gần đó là bãi hành hình đẫm máu. Đầu của nghĩa quân đã rơi xuống và cổng chùa càng dựng lên trang nghiêm.
Vào những năm đầu của thế kỷ 20 chùa là nơi liên lạc bí mật của Phan Bội Châu cùng với các đồng chí của mình. Tháng 3-1926, hội Phục Việt đã tổ chức một cuộc mít-tinh lớn tại chùa Diệc đòi xóa án Phan Bội Châu và truy điệu Phan Chu Trinh. Hàng ngàn người dân thành phố và học sinh trường Quốc học Vinh đã tới dự. Tiếng mõ cầu siêu cho nhà chí sĩ Phan Chu Trinh thấm vào lòng người nỗi tiếc thương da diết và khơi gợi tình cảm yêu nước nồng nàn.
Cũng vào dịp mùa xuân năm đó, phong trào đấu tranh của nhân dân lên cao buộc thực dân Pháp phải để cụ Phan Bội Châu đang bị giam lỏng ở Huế được về thăm quê Nam Đàn. Cuộc đón tiếp diễn ra ở Vinh vô cùng sôi động. Nhiều học sinh và sinh viên xứ Nghệ đang học ở Hà Nội cũng tìm cách trở về Vinh trong dịp này. Chùa Diệc mở cửa, lung linh ánh nến và vang rền tiếng mõ, tiếng chuông.
Trước hội quán Quảng Tri, tề tựu đông đúc các vị nhân sĩ, giáo sư, viên chức. Thầy giáo Lê Thước đọc diễn văn chào
đón: "Cụ là một vĩ nhân ái quốc, rất kiên nhẫn, mà Ông Xanh giáng sinh ra giữa đất Nghệ An. Hai chục năm thừa đi ra ngoại quốc lấy bút làm chuông, lấy nghiên làm mõ, đánh thức quốc dân trong cơn mê mẩn mấy trăm năm..."
Lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh và đón tiếp cụ Phan Bội Châu là một cuộc tập hợp lực lượng quần chúng, chùa Diệc càng được người ta nhắc đến như một địa điểm thiêng liêng kết hợp nhuần nhuyễn giữa Đạo và Đời.
Năm 1941, Đội Cung dấy binh khởi nghĩa ở đồn Rạng (Đô Lương), kéo về đột nhập thành Vinh. Sau khi bị lộ và bị thất bại, ông đã trốn vào chùa ẩn nấp mấy hôm, rồi rút lên Cổng Chốt.
Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 sôi sục các cuộc biểu tình, cờ búa liềm và truyền đơn. Thành phố Vinh náo động khí thế đấu tranh của thợ Trường Thi, của nông dân làng Đỏ, với ngọn cờ Bến Thủy, với cuộc biểu tình Thái Lão... thì chùa Diệc cũng là nơi thầm lặng giấu các chiến sĩ cộng sản.
Vị sư trụ trì chùa cảm nhận được sự chuyển biến đúng hướng của thời cuộc, đã lặng lẽ cầu kinh niệm phật và theo dõi mọi biến động xảy ra hằng ngày. Vị sư ấy có một cuốn sổ riêng, ghi tên những người đã ngã xuống ở Vinh trong phong trào do Đảng lãnh đạo. Hồn thiêng của các liệt sĩ siêu thoát trong hương thơm cửa Thiền cùng với sự trường tồn của một miền đất lửa...
***
Trước cổng chùa, bên kia hồ, là trường Quốc học Vinh. Trường thành lập từ năm 1920. Niên khóa đầu có bốn mươi lăm học sinh. Nhưng niên khóa sau, số học sinh tăng lên. Sự hiện diện của ngôi trường làm tăng thêm sự linh thiêng của chùa Diệc. Trường học và Nhà chùa tạo thành một trung tâm văn hóa của thành phố Vinh.
Trên Quán Thầu Đâu dân dã thuở ấy, Quốc học Vinh được dựng lên tôn nghiêm mái trường hài hòa với sự trang nghiêm của mái chùa, các thế hệ trí thức lần lượt xuất hiện. Họ trở thành những nhà khoa học, nhà văn, nhà hoạt động chính trị...
Học sinh trường Quốc học với ngôi chùa có mối liên hệ khá mật thiết. Năm cụ Phan Chu Trinh qua đời, hầu hết học sinh tham gia lễ truy điệu tại chùa Diệc. Năm 1927, nhà trường tổ chức Chi bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Nhiều cuộc họp kín của chi bộ được tiến hành ngay tại vườn chùa... Trong số học sinh của trường , có đồng chí Nguyễn Tiềm, mười tám tuổi, đã là Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của Đảng bộ Nghệ An, hy sinh trong tù. Chắc hẳn trong cuốn sổ ghi các liệt sĩ cộng sản của vị sư chùa Diệc có tên Nguyễn Tiềm...
Sự liên hệ mật thiết giữa các thầy giáo, học sinh trường Quốc học Vinh với chùa Diệc qua nhiều năm tháng như sợi dây xe kết âm thầm và bền vững.
Từ mối liên hệ này, đã dẫn đến một sự kiện văn học quan trọng: Năm 1926, thầy giáo Lê Thước đã phát hiện được văn bản gốc Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh) của Nguyễn Du tại chùa Diệc.
Lê Thước sinh năm 1891, quê huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Kỳ thi hương cuối cùng ở trường Nghệ năm 1918, ông đậu Giải nguyên. Sau đó ông chuyển sang Tây học một cách nhanh chóng và có hiệu quả.
Tốt nghiệp Trường cao đẳng sư phạm Hà Nội, ông về Nghệ An thành lập "Hội Hàn lâm Nghệ An" và dạy trường Quốc học Vinh. Nhà trường ở gần chùa Diệc, những ngày chủ nhật, ông thường sang chùa trò chuyện với vị sư cao tuổi. Thấy vị sư có trình độ học vấn uyên thâm, Lê Thước càng thích gần gũi. Vị sư cũng càng ngày càng quý trọng Lê Thước.
Bất ngờ một hôm, vị sư cho Lê Thước xem bản chép tay bằng chữ Nôm Văn chiêu hồn của Nguyễn Du. Lê Thước hối hả đọc, sung sướng run người. Những năm trước, Lê Thước đã say mê tìm hiểu Nguyễn Du. Nhiều lần ông còn về Tiên Điền trò chuyện với bà con họ Nguyễn để thu thập tư liệu. Ông đã cùng với Phan Sĩ Bàng viết cuốn Truyện cụ Nguyễn Du. Sự đeo đuổi kiên nhẫn đã đem lại cho ông một niềm vui lớn: tìm được Văn chiêu hồn đã từng lưu lạc hàng trăm năm mà chưa hề ai nhắc đến. Như một sự tình cờ, Văn chiêu hồn được lưu giữ ở chùa Diệc, cách quê Nguyễn Du chừng mười lăm ki-lô-mét, một ngôi chùa mà huyền thoại như đã sắp xếp để cất giấu tác phẩm đầy nhân ái này.
Đàn diệc xa xưa đã bay về báo hiệu cơn mưa trong mùa đại hạn. Rồi đàn diệc ấy lại chết sau mùa đại hạn. Có phải đàn diệc ấy cũng là thành phần trong thập loại chúng sinh mà Nguyễn Du muốn chiêu hồn?
Từ hôm ấy, học sinh trường Quốc học Vinh nhìn chùa Diệc với tấm lòng yêu mến và kính trọng hơn. Dưới mịt mù bụi cát thời gian là tầng tầng vỉa quặng văn hóa lấp lánh tâm linh dân tộc. Lẫn trong hương khói, trong tiếng chuông, tiếng khánh, tiếng mõ cầu kinh, người ta nghe văng vẳng nhịp thơ Văn chiêu hồn:
Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không,
Nam vô Phật, nam vô pháp, nam vô tăng
Nam vô nhất thiết siêu thăng thượng đài
***
Kể từ sau ngày giải phóng đất nước đến nay, ngôi cổ tự một thời từng là niềm tự hào của người dân thành Vinh này, đã chưa được đánh giá và bảo quản đúng theo giá trị của nó, hiện chỉ còn lại tam quan cùng hai tấm bia đá đang ngày đêm chống chọi với mưa nắng và bị một số người lấn chiếm đất chùa để ở, kinh doanh...
Một góc cổng tam quan của chùa Diệc hiện nay
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét