Yên Tử là nơi gắn liền với sự nghiệp tu hành của Tam tổ Trúc Lâm, đánh dấu sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm do Đức vua Trần Nhân Tông sáng lập. Thiền phái Trúc Lâm đã hội tụ đầy đủ những tinh thần của Phật giáo, nhưng chứa đựng cả một bề dày tinh hoa văn hóa Việt Nam…
Tháp Tổ ở trung tâm vườn tháp phía dưới chùa Hoa Yên,
nơi chứa xá lỵ của Đức vua-Phật hoàng Trần Nhân Tông
Nơi khởi nguồn của Thiền phái Trúc Lâm
Theo sử sách, vị Tổ khai sơn dòng Thiền Yên Tử là Thiền sư Hiện Quang. Tiếp đến là Thiền sư Đạo Viên, học trò xuất sắc, được Tổ Hiện Quang mật truyền tâm ấn, trực tiếp chỉ giáo và đặt hiệu là Trúc Lâm. Ông trở thành vị Tổ thứ hai của dòng Thiền Yên Tử, đạo hiệu "Trúc Lâm Quốc sư Đại sa môn”. Kế tục đời thứ ba dòng thiền Yên Tử là Đại Đăng Quốc sư. Thế hệ thứ tư là Tiêu Diêu Thiền sư.
Ông là học trò của Đại Đăng (là thầy của Tuệ Trung thượng sĩ). Thế hệ thứ năm là Tổ sư Huệ Tuệ. Đến năm 1299, vua Trần Nhân Tông chính thức xuất gia về Yên Tử tu hành, trụ trì tại sơn môn Yên Tử. Ngài được coi là người truyền thừa thế hệ thứ sáu của dòng Thiền Yên Tử.
Những năm tháng tu hành tại Yên Tử, Trần Nhân Tông không chỉ đơn thuần tham Thiền học đạo, lĩnh ngộ cơ vi theo yếu chỉ Thiền Tông, tụng kinh niệm Phật để đắc pháp như một người tu hành bình thường. Trên quan điểm của một ông vua đã từng lãnh đạo quân dân Đại Việt trải qua hai phen binh lửa với những chiến công lẫy lừng để giành độc lập dân tộc và xây dựng giang sơn xã tắc, ngài đã tìm tòi kinh điển Phật giáo và các tư tưởng Nho, Lão... để đúc kết thành một hệ tư tưởng thống nhất, làm nền tảng tinh thần đại đoàn kết toàn dân, xây dựng hướng đi riêng cho Phật giáo dân tộc.
Và ngài đã rất thành công khi tập hợp lại hệ thống triết thuyết của mình thành giáo lý của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - một Pháp phái riêng của đạo Phật, được coi là đạo Phật Việt Nam thời Trần. Đức vua Trần Nhân Tông trở thành Tổ thứ nhất của thiền phái Trúc Lâm.
Danh sơn Yên Tử Yên Tử là một địa điểm có sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan thiên nhiên với các công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia, bao gồm: Chùa Bí Thượng, chùa Suối Tắm, chùa Cầm Thực (tên chữ là Linh Nhâm tự), chùa Lân (tên chữ là Long Động tự), chùa Giải Oan, vườn tháp Hòn Ngọc (bao gồm 9 ngôi tháp lớn nhỏ bằng đá và gạch), khu tháp Tổ (còn gọi là vườn tháp Huệ Quang), chùa Hoa Yên (tên chữ là Hoa Yên tự)…
Bên cạnh cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, còn là nơi bảo tồn được rất nhiều loài động thực vật quý hiếm mà không một vùng núi nào có được, đặc biệt là các loài cây quý như tùng gồm 3 loại thủy tùng (gỗ trắng), thanh tùng (gỗ xanh) và xích tùng (gỗ đỏ), trúc, mai vàng và các loại cây thuốc nam quý hiếm.
Vẻ đẹp của Yên Tử là sự kỳ vĩ của núi non hoà với nét cổ kính, trầm mặc của chùa tháp, là sự thơ mộng của suối nước trời mây chen trong cây cỏ hoa lá và chim muông, là sự phong phú của thảm thực vật đa dạng và những loại cây dược liệu có giá trị. Các triều đại phong kiến nước ta đều xếp Yên Tử vào loại "danh sơn”…
Những giá trị làm nên sự đặc biệt của Khu di tích lịch sử danh thắng Yên Tử- theo các nhà nghiên cứu về giá trị lịch sử, thì đây là nơi hình thành, ra đời và phát triển của Trung tâm Phật giáo Thiền Tông thuần Việt, do người Việt trực tiếp sáng tạo ra. Đồng thời, là một trong những di tích lớn và ra đời sớm ở nước ta. Hệ thống chùa, am, tháp, bia, tượng… ở Yên Tử là những tư liệu lịch sử vật chất quý báu, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp tu hành của Đức vua-Phật hoàng Trần Nhân Tông và các thế hệ thiền sư đã tu hành tại đây.
Các văn bia ở Yên Tử đều chứa đựng một lượng thông tin rất lớn, qua nghiên cứu các văn bia ở đây chúng ta có thể lập lại được một phả hệ những nhà sư đã tu hành tại đây cùng với lược sử của họ, từ đó có thể nghiên cứu được tình hình phát triển của Phật giáo Trúc Lâm qua từng thời kỳ.
Trải qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê, Nguyễn, danh sơn Yên Tử trở thành nơi hội ngộ của các bậc thiền sư đạo cao đức trọng như Tổ Chân Nguyên, ni sư Đàm Thái, Đệ nhất Tổ Trần Nhân Tông, Đệ tam Tổ Huyền Quang… Sự ra đời và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã để lại cho hậu thế những bản kinh văn và các bản sách quý giá, những sách dạy cho các tăng môn và dân chúng của Thiền phái Trúc Lâm tu tập, sám hối, tu hành thập thiện. Đây là những di sản văn hoá phi vật thể quý giá đang đồng hành cùng sự phát triển của lịch sử dân tộc.
Trong lịch sử xã hội Việt Nam, sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là kết quả của những nỗ lực đưa Phật giáo sát cánh cùng dân tộc, là mốc son lịch sử đánh dấu sự thống nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Từ Kinh đô Phật giáo Yên Tử, Phật pháp Trúc Lâm đã lan tỏa và phát triển rộng tới các vùng miền của đất nước. Ngày nay, Phật pháp Trúc Lâm đang được các thế hệ nối tiếp kế thừa hoằng dương ngày một phát triển và đang được các thế hệ thiền sư sau này truyền bá đến nhiều quốc gia trên thế giới.
Niềm vui của phật tử khi lên đến chùa Đồng
trên đỉnh non thiêng Yên Tử
Chưa đi Yên Tử, chưa thành quả tu… Từ lâu, trong dân gian đã có câu rằng: "Trăm năm tích đức, tu hành; Chưa đi Yên Tử, chưa thành quả tu”. Điều đó cho thấy Phật giáo ở Yên Tử từ xưa đã có sự ảnh hưởng rất lớn trong đời sống tâm linh của người Việt. Lễ hội Yên Tử diễn ra bắt đầu từ ngày 10 tháng Giêng và kéo dài đến hết tháng Ba âm lịch hàng năm. Hội Yên Tử là lễ hội hành hương vào mùa xuân, bắt đầu từ ngày 10 tháng Giêng hằng năm và kéo dài suốt 3 tháng mùa xuân.
Đặt chân lên đến "Đỉnh thiêng Yên Tử” và chậm rãi từng bước theo bậc đá chênh vênh lên đến chùa Đồng nằm ở độ cao 1.068m so với mực nước biển, người hành hương đi lễ không chỉ bị choáng ngợp bởi sự kì vĩ của thiên nhiên giữa mây trời mà còn cảm thấy như mình đã đặt chân lên đến cõi Phật và tách khỏi thế giới trần tục.
Với giá trị tiêu biểu là kinh đô Phật giáo của Đại Việt xưa và nay, nơi sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - thiền phái thuần Việt gắn liền với công lao của 3 vị Tam Tổ Trúc Lâm, đặc biệt là Đức vua- Phật hoàng Trần Nhân Tông, những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể ở miền non thiêng Yên Tử mãi trường tồn cùng thời gian.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét